PDA

View Full Version : Thái Ất Kim Hoa Tông Chỉ - Lã Ðồng Tân



longthanngongao
17-11-06, 10:06 AM
Lời Giới Thiệu

"Thái Ất Kim Hoa Tông Chỉ" là cuốn Ðan kinh có ảnh hưởng rộng rãi không riêng gì ở Trung Hoa, mà ở cả nhiều nước trên thế giới. Cuốn sách này kể từ lúc được in thành sách vào đầu đời Thanh cho đến nay đã được các nhà dưỡng sinh học đặc biệt coi trọng .

Trong số các bản in hiện còn giữ được đến ngày nay chủ yếu chia thành hệ thống phái Tịnh Minh và Hệ thống phái Long Môn.

Ðại biểu cho các bản thuộc hệ thống phái Tịnh Minh là bản "Thái Ất Kim Hoa Tông Chỉ" khắc ở am Nhị Tiên huyện Thành Ðô năm 1906, cuối sách có in bản phụ lục của Quản Hóa Tử "Xiển U vấn đáp". Bản này do Tưởng Quang Ðình dựa vào một bản sao khắc lại vào năm Gia Khánh triều Thanh và đưa vào "Ðạo Tạng tập yếu", gọi là "Tập yếu bản".

Năm 1917, Hợp Ðạo Tử Diêu Tế Thương tìm được ở phố sách xưởng Lưu Ly , Bắc Kinh - bản sao Thái Ất Kim Hoa Tông Chỉ gọi là "Kinh bản" .

Ít năm sau, Cham Nhiên Huệ Chân Tử in gộp bản sao này với Huệ Mạng Kinh và đặt tên là "Thuật trường sinh . Tục mệnh phương" gọi là Huệ bản.

Kinh bản và Huệ bản tất cả đều thuộc hệ thống phái Tịnh Minh. Còn bản do Mẫn Nhất Ðắc (1758 - 1837) đính chính vào năm Ðạo Quang thứ mười một đời Thanh (1813) được xem là đại biểu đo hệ thống phái Long Môn, đồng thời được ông tập hợp trong "Ðạo Tạnh tục biên. Sơ tập" và manh cái tên đầy đủ "Lã Tổ sư Tiên Thiên Hư vô Thái nhất Kim Hoa Tông chỉ". Năm 1965, nhà xuất bản "Tự do Ðài Loan cho in "Long Môn phái Ðan pháp quyết yếu" và năm 1988, nhà xuất bản "Ðại học nhân dân Trung Quốc" phát hành "Ðông phương tu Ðạo văn khố . Toàn Châu bí yếu" , đều chọn và in lại bản của Mẫn Nhất Ðức.

Bản dịch này của chúng tôi chủ yếu dựa vào bản in của Mẫn Nhất Ðức. Năm 1929, "Thái Ất Kim Hoa Tông chỉ" được xuất bản bằng tiếng Ðức, do cha Richard Wilhelm người Ðức (1873 - 1930), trong giáo hội Thanh Ðảo kiêm giáo sư Trưởng Ðại học Frankfurt dịch chín chương đầu căn cứ vào bản của Huệ Chân Tử . Nhà phân tâm học Thụy Sy C.G. Jung đã viết lời bình rất dài cho sách này.

Năm 1931, Cay F. Baynes căn cứ vào bản tiếng Ðức dịch và xuất bản sang tiếng Anh. Con đây, giáo sư Toseltaiyu và phó giáo sư Teihoshofu Nhật Bản căn cứ vào Kinh bản dịch sang tiếng Nhật và xuất bản với tên sách "Bí mật luyện Kim Ðan" .

Như thế là, hiện nay trên thế giới, ngoài tiếng Hán, "Thái Ất Kim Hoa Tôn Chỉ" đã được lưu hành bằng tiếng Ðức, tiếng Anh và tiếng Nhật. Phần lớn các bản dịch này đều hết sức nghiêm túc, rõ ràng cố tránh dùng những lời văn ẩn dụ.

Cả hai phái Ðạo giáo Tịnh kinh và Long Môn đều nhận định Thái Ất Kim Hoa Tông Chỉ là do Lã Ðồng Tân truyền dạy. Các bản của hai phái này xưng hô Lã Ðồng Tân một cách tôn kính là "Lã Tổ" và "Tổ sư", đồng thời truyền tụng rằng cuốn kỳ thư này đã được Lã Ðồng Tân viết ra trong trạng thái thần hiệp.

Lã Ðồng Tân tên chủ là Lã Nham, hiệu là Thuần Dương Tử, người huyện Vỉnh Lạc, phủ Hà Trung (nay là huyện Vỉnh Lạc, tỉnh Sơn Tây), sống vào thời Ngũ Ðại Văn Ðường , ông theo học Ðại Ðạo Kim Ðan sư phụ Chung Ly Quyền và đã mở ra một hướng mới trong việc tu luyện Nội Ðan kể từ Tống Nguyên cho mãi về sau. Từ Văn Ðường cho đến đầu Thanh, trong thời gian kể hàng trăm năm, đã có không biết bao nhiêu truyền thuyết thần bí về Lã Ðồng Tân, nói lên lòng tôn kính và ngưỡng mộ của người đời đối với ông .

Cuốn Thái Ất Kim Hoa Tông Chỉ của ông gồm cả thảy mười ba chương , xem ngôn từ và cách hành văn có thể suy đoán sách ra đời sau triều đại Tống Huy Tôn (1082 - 1135). Nhưng Pháp quyết Nội Ðan trình bày trong sách đúng là công phu thanh tĩnh Bắc phái chân truyền. Phàm đã là Ðan pháp Thanh tĩnh, nhằm đích đoạt quyền Tạo Hóa, thay đổi tố chất cơ bản của con người ; thì đều chú trọng theo đuổi "Huyền Quan nhất khiếu" thực hành phép Hồi Quan phản chiếu dựa theo Ðan Quyết truyền khẩu của thầy trò Vương Trùng Dương (1112-1170). Sách Thái Ất Kim Hoa Tôn Chỉ trình bày tỷ mỹ, súc tích về công lý và công pháp của phép tu luyện Nội Ðan . Về mặt công lý, sách đề xướng Ðại đạo lấy Hư vô làm bản thể, lấy hiển hóa làm công dụng . Công pháp của chúng tôi chuyên lấy Thái Nhất làm gốc, Kim Hoa làm ngọn, gốc ngọn nương tựa lẫn nhau, ắt sẽ trường sinh bất lão vậy . Thái nhất tức là Ðạo, duy chỉ Có và Hư hòa hợp với nhau mới có thể đắc Ðạo thành Tiên.

Ðạo trong con người là Nguyên Thần. Người tập nếu giữ được Nguyên Thần thì sống ngoài Âm Dương , không trong Tam giới . Nguyên Thần thuộc về tiên thiên, Thức Thần thuộc hậu thiên. Thức Thần làm cho con người có Thất tình, Lục dục, dần dần tiêu hao Tinh Khí Thần.

Con đường tu Ðạo là ức chế Thức Thần, đi ngược trở về trạng thái Nguyên Thần tiên thiên, chủ yếu dựa vào công pháp Hồi Quang . "Hồ Quang thí Khí Âm Dương trong Trời đất không gì là không ngưng tụ " Vì thế Ðạo Kim Hoa toàn dùng nghịch pháp.

Trong quá trình Hồi Quan cần tuân thủ nguyên tắc "Vô vi nhi vi". Duy chỉ có "vô vi" mới không dừng lại ở hình tướng . Duy chỉ có "Vô vi nhị vi" mới không rơi vào "Không" một cách chết cứng "vô vi" không phải là phó mặc không để ý, mà là chẳng để ý đến "Có" cũng chẳng để ý đến "không" thực tế giữ ở mức "Trung" . Trung ở mọi chỗ, Trung sẽ không "thái quá", mà cũng không "bất cập", đó thật ra cũng là Ðạo .

Sách "Ðạo Ðức kinh" nói : "Ðạo xung nhi dụng chi" (Ðạo hư không lại vô hình). Muốn đạt được cảnh giới "Trung" , bản thể và công dụng của Ðạo phải hợp Hai thành Một, như thế gốc và ngọn mới nương tựa lẫn nhau, hợp lẽ Tự Nhiên, đạt đích "nhập thế mà không lụy", xuất thế mà vẫn "ở giữa nhân gian" . Công lý của Thái Ất Kim Hoa Tôn Chỉ kế thừa tinh hoa sách Ðạo Ðức Kinh" của Thái Thượng Lão Quân. Bàn về Ðạo, các bậc thánh nhân và hiền triết thường dùng lối tâm truyền tâm, từ thế hệ nọ truyền tới thế hệ kia, bắt đầu từ Lão Tử cho mãi tới Ðông Hoa đế quân rồi về sau chia thành hai Tông Nam Bắc.

Về mặt công pháp, Thái Ất Kim Hoa Tông Chỉ nhấn mạnh tính công gọi đó là "Nhất siêu trực nhập công phu" , chủ trương mắt quay về nhìn dõi vào trong , lấy Khí từ Thượng Ðan Ðiền đưa xuống Trung và Hạ Ðan Ðiền.

Các bản trong Hệ thống phái Long Môn đề xướng tiệp quyết trong khẩu quyết, mà phương pháp là Tồn tưởng chữ Y , trong tiếng Phạn, để cho Tam Quang hội tụ ở Tâm giữa hai lông mày, sau đó dùng Ý dẫn vào quan khiếu sau Tâm để khai mở Thiên Tâm. Thiên Tâm tức là "Huyền Quan nhất khiếu" , không ở trong thân, không ở ngoài thân, không thể sờ lần mà khai mở, chỉ có thể lẳng lặng tới gần .

Bước đầu tập luyện là ngồi tỉnh tọa, tập trung vào điểm nằm giữa hai con mắt, đồng thời dùng Phép Chỉ Quán của nhà Phật gạt bỏ mọi tạp niệm, cầu được chính niệm, tiêu hủy Thức Quang và làm hiển hiện Tính Quang .

Trong lúc lưu ý đến hai thứ bệnh "hôn trầm" và "tán loạn" rất dễ nảy sinh lúc tu lập Hồi Quang . Lã Ðồng Tân nhận xét :"Gà mái khi ấp trứng , Tâm thường lắng nghe, đó là một yếu quyết vậy". Tâm và Tức đi theo nhau , và Hồi Quang phản chiếu - đó là then chốt trình tự tu luyện Nội Ðan. Cứ tu tập như thế từ nông đến sâu sẽ từng bước chân nghiệm những hiện tượng nảy sinh khi tĩnh tọa. Ðợi tới khi "Ngưng Thần nhập khí huyệt" , "Khai mở khiếu Huyền quan", Khí tiên thiên nhờ Huyền khiếu vào ra, sẽ xuất hiện Chân Tinh Chân Khí, nghĩa là sản sinh Ðan Dược giúp con người trường sinh bất lão, cải lão hoàn đồng . Chân Tinh Chân Khí sẽ đi từ nhỏ đến lớn, từ ít đến nhiều, con người sẽ dần dần gạt bỏ được nhưng cặn Âm, quay trở về cảnh giới Thuần Dương . Ðợi tới khi kết thành Thánh Thai, ngoài Thân có Thân, tức có thể trường sinh bất lão, đắc Ðạo thành Tiên.


Trong khi đề xướng phép tu luyện Nội Ðan, Lã Ðồng Tân chủ yếu phát huy tư tưởng "trường sinh bất lão", "Tu Chân thành Tiên" của Ðạo giáo đồng thời kết hợp cả với học thuyết của Nho giáo và Phật giáo. Trong Thái Ất Kim Hoa Tông Chỉ đã kết hợp nhuần nhuyễn những tinh hoa triết lý của Nho giáo và Phật giáo, nhằm làm cho mọi người dễ hiểu học thuyết Nội Ðan. Trong các Ðan Kinh cổ quen dùng các thuật ngữ ẩn dụ khó hiểu như Khảm Ly, Thủy Hỏa, Long Hổ, Chì , Thủy Nhân, Hỏa Hậu, Chu Thiên, Tắm Gội v.v..., nhưng trong Thái Ất Kim Hoa Tông Chỉ , lại dùng lời nói gần gũi, sinh động mộc mạc, đi thẳng vào bản chất. Phép tu luyện Nội Ðan chủ yếu là tu luyện Tinh Khí Thần, trong sách nêu rõ , Khảm Ly tức Âm Dương, Âm Dương tức Tính Mệnh, Tính Mệnh tức Thân Tâm, Thân Tâm tức Thần Khí v.v... của các gia các phái; tư tưởng cho Tâm tĩnh - đó là Ðan, Tâm không - đó là Dược chính là dùng lý lẽ của nhà Phật để thuyết minh về Ðạo, rất dễ hiểu, dễ tiếp thu. Sách Thái Ất Kim Hoa Tông chỉ nhấn mạnh Tính công chú trọng công phu tu dưỡng Tâm tĩnh, thống nhất công phu tu tập của Tam gia Nho Thích Ðạo ở vấn đề cơ bản : vấn đề sống chết .

Các bậc Thánh Hiền Nho giáo dạy mọi người công phu tu dưỡng bắt đầu từ "Tri chỉ", lấy "chỉ ư chí thiện" làm mục đích, bắt đầu từ Vô cực rồi cuối cùng lại trở về Vô cực. Tinh hoa Phật học lấy "Vô sở trụ nhi sinh kỳ Tâm" (phải sinh cái Tâm không trụ vào chỗ nào) nói đến trong kinh Kim Cương làm giáo chỉ Ðại Tạng . Còn Ðạo giáo chúng ta tôn sùng hai từ "trí hư" , Tâm đã có thể "trí hư cực" thì Tính công đã thành, "thủ tĩnh đốc" thì Mệnh công đã đạt, cho nên Tính Mệnh song tu , Hình Thần đều trọn vẹn.

Tóm lại, qua những điều trình bày trên, Tam giáo Nho Thích Ðạo đã tổng kết mục đích tu dưỡng thành một câu : đó là tạo được Thần Ðan rời xa cái Chết, đi vào cái Sống . Chỉ cần làm cho con người được giải thoát thì đâu đâu cũng đều là học vấn, đâu đâu cũng có lý lẻ diệu huyền. "Những điều ta nói chỉ là làm bộc lộ chổ tương thông , vì thế là nhất quán". Cái gọi là "Ðược một thì mọi sự kết thúc" trước tiên đó là Ðạo , Thái Ất Kim Hoa Tông Chỉ chính là bắt đầu từ chỗ tương thông lấy "Ðạo pháp tự nhiên" (Ðạo tuân theo những qui luật vốn có của mình) làm cảnh giới tối cao, hấp thụ triết lý phép chỉ quán quay trở về chính mình của nhà Phật, cũng như Tám Hoàn, Tám Thức v.v... trong kinh Lăng Nghiêm , đồng thời lồng tinh thần tự cường của Nho gia , lấy Chính niệm xử lý mọi việc , "không được rời xa Chính nghiệp" vào trong Ðan Lý, Ðan pháp, lý lẻ tự nhiên, đâu ra đấy, không chút gì khiên cường .

Goethe, nhà thơ vĩ đại Ðức nói : Ðông phương và Tây phương không còn cách biệt. Ðời sống vật chất của con người tuy còn khác xa nhau, con đường dẫn đưa tới thế giới tinh thần cũng chẳng giống nhau, nhưng nhu cầu cuối cùng về phương diện tinh thần thì lại rất gần nhau. Chính trên ý nghĩa đó, sau khi bản dịch tiếng Ðức , Thái Ất Kim Hoa Tông Chỉ ra mắt vào năm 1929, đã gây xôn xao trong giới học thuật cùng như trong quần chúng Âu Mỹ.

Nhà tâm lý học Thụy Sĩ nổi tiếng C.G. Jung , cộng sự thân cận của Freud, thông qua việc nghiên cứu khái niệm công pháp dưỡng sinh và nội dung chủ yếu của Thái Ất Kim Hoa Tông Chỉ , đã phát hiện thấy sự phù hợp bất ngờ giữa tinh thần chủ yếu của tác phẩm với tâm lý học phân tâm, và đã cung cấp cho công pháp Nội Ðan Trung Quốc ý nghĩa tâm lý học và nội hàm triết học, đồng thời nêu ý kiến cho rằng sự ra đời của tâm lý học phương Tây đã tạo tiền đề cho hai nền văn hóa Ðông Tây hiểu biết lẫn nhau. Tâm lý học phân tâm cho rằng tâm lý con người có một cái nền chung vượt lên trên tất cả mọi nền văn hóa và ý thức - đó là vô thức tập thể (Inconscient collectif), nó chẳng những bao gồm một số nội dung có thể biến thành ý thức, mà còn bao gồm những hành vi tâm lý tiềm tàng do các phản ứng chung gây ra. Ở đây, tính vĩnh hằng của Ðạo, tức chân Tính Nguyên Thần trở thành từ đồng nghĩa với vô thức tập thể, trở thành tượng trưng của sức khỏe tâm thần tuyệt đối. Hành vi của con người do ý thức, tức Thức Thần chi phối, còn quá trình ức chế Thức Thần hướng về Nguyên Thần chính là tu Ðạo. Tất cả những nhánh phát triển của tâm lý đều bắt nguồn từ một gốc chung mà cội rễ của nó bám sâu vào toàn bộ những tầng bậc của quá khứ .

Tâm lý học chính là một chiếc chìa khóa giúp con người nhận thức bản thân, mà bí mật của Kim Hoa chính là một bí mật về sức sinh trưởng tiềm tàng trong tâm lý người, quá trình nhận thức những bí mật đó đòi hỏi con người, trên một mức độ rất lớn, phải đột phá những chướng ngại của Thức Thần. Tâm lý học chỉ thỏa mãn với nhưng gì đã giải nghiệm về mặt tâm lý mà quên mất rằng chỉ có làm mất tự ngã mới đạt được tự ngã thực sự .

Ðạo gia đã tìm thấy phương pháp chân chính do bởi ở tầng bậc này . Tính và Mệnh đã được thống nhất, Thân Tâm khó lòng phân biệt, ranh giới giữa thế giới vật chất và thế giới tinh thần không còn nữa, đó chính là điểm khác biệt giữa học thuyết của Ðạo gia với tâm lý học phân tâm .

Kinh nghiệm lịch sử đã cho hay, tinh thần phải dựa vào khoa học làm nhiệm vụ hướng dẫn cho thế giới hiện thực, còn khoa học phải hướng vào tinh thần để kiếm tìm ý nghĩa của sinh tồn. Học thuyết Nội Ðan của Ðạo gia chính đã dựa vào khoa học tìm ra con đường giúp con người hướng tới cảnh giới hoàn thiện, qua đó thể hiện ý nghĩa lớn lao của học thuyết này đối với đời sống của con người hiện đại .

Sinh ra và lớn lên tại một lành nghề, từ lúc còn để chỏm đã được ngắm nghía những bức mành tủ chạm tích "Bát Tiên quá hải", tôi đã thuộc lòng tên các vị Tiên : Hớn Chung Ly, Lý Thiết Quài, Trương Quả Lão, Tào Quốc Cữu, Lã Ðồng Tân, Hàn Tương Tử, Lam Thái Hòa, Hà Tiên Cô; song còn sự tích cùng phương pháp tu luyện của họ ra sao tôi không hề hay biết !

Mãi tới gần đây, năm 1997, tại một hiệu sách cũ Côn Minh Trung Quốc, tôi may mắn tìm được sách Thái Ất Kim Hoa Tông Chỉ của Lã Ðồng Tân . Các bạn bên Ðức và Pháp nhiệt tình giúp tôi kiếm tìm các bản dịch tiếng Anh và tiếng Ðức .

Vốn là một người có đôi chút hiểu biết về phương pháp tu tập Cổ Ðông phương , tôi khát khao dịch tác phẩm đó giới thiệu với đông đảo bạn đọc nước ta, nhất là đối với những ai quan tâm tới phương pháp dưỡng sinh Cổ Ðông Phương .

Tôi cứ băn khoăn tự hỏi, ở nước Ðức xa xôi, ngay từ năm 1929, tác phẩm quí giá đó đã được cha Richard Wilhelm dịch giới thiệu với độc giả phương Tây, vậy mà chúng ta ở ngay sát nách nước bạn Trung Hoa mà mãi tới giờ nhiều người vẫn chưa biết tới tác phẩm bất hủ đó. Có thể đây là một sự chậm trễ thiệt thòi, không sao nói hết được, đặc biệt đối với những ai muốn đi sâu tìm hiểu về con đường tu Ðạo, hoàn thiện bản thân, trường sinh bất lão...

Tôi đã gấp rút dịch và chú thích sách này theo bản in của Mẫn Nhất Ðức do Nhà xuất bản Khoa học Xã hội Trung Quốc ấn hành năm 1996 , đồng thời có đối chiếu với bản in của Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật tỉnh Tứ Xuyên.

Với một tác phẩm thâm thúy, súc tích, uyên bác như Thái Ất Kim Hoa Tông Chỉ , mặc dù đã cố gắng tra cứu, tham khảo, tự mình chứng nghiệm, song chắc chắn không tránh khỏi những chỗ sai sót, lầm lẫn, rất mong bạn đọc lượng thứ và sẳn lòng chỉ giáo.

Hà Nội tháng 5,1999

Người dịch

Thế Trường

honglaumong
17-11-06, 10:16 PM
hay thật! không biết có phải chương thứ nhất của Thái ất kim hoa tông chỉ chính là Thiên Tâm

Chương 1 - Thái Ất Kim Hoa Tông Chỉ


Thiên Tâm


Tổ Sư (1) nói : Thiên Tâm là tâm chung của "Tam tài" (Thiên ,Ðịa ,Nhân) là Huyền khiếu (2) mà trong các kinh sách dưỡng sinh vẫn thường nói đến, là nhịp Vũ trụ phổ quát cho muôn vật trong Trời Ðất .

Con người ta sinh ra ai cũng có Thiên Tâm, chỉ có điều ở những nhà Hiền triết, trải qua một quá trình tu luyện nhất định, thì Thiên tâm khai mở, còn ở những người bình thường thì cả đời không hề hay biết rằng có nó.

Thiên Tâm khai mở có thể trường sinh, còn đóng kín thì đoản mệnh.

Người đời thường nghĩ, con người ta sống chết đều có số, đó là ý nghĩ tầm thường, không đáng để ta lưu ý. Ai mà chẳng mong sống lâu, nhưng thực tế lại đi dần vào cõi chết. Ðó có phải là do người ta có những gan ruột khác nhau không ? Không ! ấy là do "lục căn" mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý , lôi cuốn con người, do "lục trần" sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp , làm cho con người tham dục, tâm không lúc nào thanh tịnh. Chính vì vậy mà nhiều người tuổi còn trẻ chớp mắt đã già nua, chết yểu. Cho nên, các Ðạo sĩ nói chúng đều đồng tình với nhận xét trên đây, thường chủ động truyền dạy Ðại Ðạo cho người đời. Tiếc thay, người truyền dạy thường hay "nói thật mất lòng", còn người nghe thì không biết nắm lấy những điều mấu chốt. Vì sao vậy ? Bởi vì mọi người không hiểu "Bản thể" và "Công dụng" của Ðại Ðạo, chỉ biết làm cho cái nọ phương hại đến cái kia. Dưỡng sinh theo cách đó, chẳng khác nào trống đánh xuôi, kèn thổi ngược, vĩnh viển không bao giờ đi tới đích !

Mọi người đâu có hiểu , Ðại Ðạo lại lấy hư vô làm "bản thể", lấy hiển hóa làm "công dụng" vì thế trong quá trình học đạo không thể dừng ở những "vật hữu hình", mà cũng chẳng thể rơi vào "hư không" được. Ðiều quan trọng nhất là làm cho sự vận động của chân khí thông suốt khắp trong cơ thể.

Công pháp tu luyện của học phái chúng tôi chỉ lấy "Khí tiên thiên" (3) làm bản thể, "Kim đan" (4) làm công dụng, khiến cho bản thể và công dụng phối hợp, ăn khớp với nhau, để đạt đích trường sinh bất lão.

Phương pháp này các bậc thánh nhân và hiền triết thường dùng lối "tâm truyền tâm" , từ thế hệ nọ truyền tới thế hệ kia, bắt đầu từ Lão Tử cho mãi tới Ðông Hoa đế quân, rồi về sau chia thành hai tông Nam Bắc (6).

Ðại Ðạo vốn không thần bí, nhưng tâm truyền cực kỳ bí hiểm, đó không phải là do cố làm cho huyền bí, mà là vì công pháp này không thể nào tiếp thu được nếu như không dùng lối tâm truyền tâm.

Ngoài cách đó ra cũng không thể nào truyền bá và tu học được. Cố nhiên, dùng ngôn ngữ truyền thụ mặt đối mặt cũng có thể được, nhưng vẫn còn rất nhiều người nghe Ðạo có trình độ lĩnh hội khác nhau, huống chi viết ra thành lời để phổ biến thì lại còn kém xa một bậc .

Chính vì vậy mà nói. Ðại Ðạo do Lão Tử truyền thừa đặc biệt chú trọng tâm truyền. Dạy và học công pháp này đều được lĩnh hội, trở nên sáng rõ qua bước "Tâm lĩnh thần hội". Ở đây sư phụ không thể đảm bảo truyền thụ toàn bộ Ðại Ðạo cho đệ tử, còn đệ tử cũng không thể đảm bảo đã học được tất cả ở sư phụ . Chỉ có dựa vào niềm tin chân thành trong sáng mà một ngày nào đó có được thời cơ thích hợp, Tâm Thần hòa quyện, ý nghĩa của sư phụ bộc bạch rõ ràng, đệ tử lĩnh hội rạch ròi từng lời từng chữ. Thầy trò hoặc đối diện nhìn nhau mỉm cười tâm ý cùng thông , hoặc cảm động đến rơi nước mắt.

Phàm những người nhập Ðạo và ngộ Ðạo đều có cùng trải nghiệm chung này. Ở đây các đệ tử thường ngộ Ðạo trước rồi sau nhập Ðạo, cũng có người nhập Ðạo trước rồi sau ngộ Ðạo, nhưng quyết không có ai tâm tư không tập trung, niềm tin không kiên định mà nhập Ðạo và ngộ Ðạo cả. Bởi lẽ, tâm tư không tập trung tất nhiên sẽ tán loạn; niềm tin không kiên định tất nhiên sẽ hời hợt, chàng màng. Mà đã tán loạn thì không thể nào làm cho ánh sáng tụ hợp, hời hợt thì không thể nào làm cho ánh sáng ngưng kết . Mà đã vậy thì ngay tâm của mình cũng không cách nào hiểu nổi, nói chi đến chuyện hòa đồng với Tâm mà Lão Tử giải truyền.

Chính vì thế mà Nho gia chủ trương nội tỉnh , Ðạo gia chủ trương nội thị. Trong "Kinh bốn mươi hai chương (9) của Phật gia cũng nói : định Tâm vào một nơi thì còn có việc gì mà chẳng làm được ?". Ở đây ý muốn nói, Ðại Ðạo tối thượng chẳng qua chỉ là làm cho tấc Tâm ấy cùng chỉnh thể của nó hoàn thiện mà thôi. Vậy chỉnh thể ấy là gì ? Ðó là cảnh giới trong sáng không vẩn **c - "Tông chỉ" mà ta truyền thụ, nội dung huyền diệu nhất chính là ở điểm này.

Khéo bận dụng "Tông chỉ", then chốt là ở năm chữ "Ðịnh tâm vào một nơi". Quyết pháp của "Ðịnh tâm vào một nơi" là nội quan, đó chính là bí chỉ của tâm truyền đã nói ở trên. Công pháp này chẳng những có thể dạy bằng lời, mà còn có thể viết trên giấy trắng mực đen. Có điều khi công phu tu luyện đến chổ cao thâm, đạt tới giai đoạn tâm không vắng lặng, cuối cùng lặng lẽ xem ngắm ý cảnh diệu huyền nhất thì lúc này bút không sao tả nổi, mà cũng chẳng thể truyền dạy bằng lời. Lúc này quả đúng là hư vô, đúng là tĩnh lặng, đúng là sáng láng, đúng là tịch mịch, hệt như một hạt huyền châu (10) tâm tâm tương ấn. Ðây thật quả là vô cùng huyền diệu !

Sau khi đã tới giai đoạn đắc Ðạo, ngộ Ðạo, hết thảy mọi điều đều sáng rõ .

Ở đây không còn có Ðạo lý nào khác, đó chẳng qua chỉ là vì Thiên Tâm đã khai mở.


Những người cầu Ðạo ngày nay cũng giống như đi qua một con sông. Nước sông mênh mang chẳng biết làm thế nào qua được. Cho tới lúc đã sang tới bờ bên kia an toàn, thì ngay đến cả chiếc bè qua sông kia ta cũng chẳng cần; chuyện này cũng hệt như sau khi đã đắc Ðạo, phương pháp tu Ðạo cũng có thể xếp lại chẳng cần đến làm gì. Thế nhưng, khi chưa biết xử trí ra sao, thì hãy cho họ một chiếc bè là đắc sách . Tôi giờ đây may mắn được đảm nhận sứ mạng người thầy dẫn dắt, tốt nhất trước tiên nên giao chiếc bè đó cho mọi người.


Thiên Tâm là một khiếu. Nhưng khiếu này không ở trên thân mình, mà cũng không ở ngoài thân. Không thể sờ nắn để nó khai mở, chỉ có yên lặng tập trung bền bỉ đợi chờ . Nếu muốn nhận thức sự tồn tại của Thiên Tâm thì không ngoài cách lần tìm "Sắc (11) tức Không (12) Không tức Sắc nói trong "Tâm Kinh" (13) của nhà Phật "là cái này, lại vừa không phải là cái này; không phải là cái này lại vừa là cái này" nói đến trong các Ðan thư (14) của Ðạo gia. Một khi tới được cảnh giới đó sẽ ung dung tự tại, tự nhiên nhi nhiên, Thiên Tâm khai mở. Và, Thiên Tâm hễ đã khai mở sẽ khai mở vĩnh viễn. Công pháp tu luyện ở đây gói ghém trong hai chữ "Tồn thành" (15).

Khi các vị dùng phương pháp Tồn thành để luyện công, cần biết cách vận dụng khéo léo phương pháp này, đó chính là khẩu quyết tu luyện. Trong khẩu quyết tu luyện còn có khẩu quyết đưa lại hiệu quả nhanh hơn : khi gạt bỏ tạp niệm để nhập tĩnh, cần tham khảo hình dáng của chữ "Y" trong tiếng Phạn , đem điểm ở giữa đặt vào giữa hai lông mày, còn hai điểm dưới thì điểm bên trái đặt vào mắt trái, điểm bên phải đặt vào mắt phải, thế là thần quang của hai mắt tự nhiên sẽ hội tụ ở tâm hai lông mày. Tâm hai lông mày chính là thiên mục, là cửa ngõ tam quang hội tụ, vào ra (17). Người ta nếu biết sử dụng ba con Mắt giống như chữ Y tiếng Phạn ấy, nhất là lại biết nhẹ nhàng dùng ý nghĩ làm cho chúng chuyển động, hệt như khe khẽ mài sáng gương vậy, tức thì tam quang sẽ hội tụ ở tâm hai lông mày, lóe sáng tựa hồ như Mặt Trời hiển hiện ở ngay trước mắt. Giờ đây, ta lại tiếp tục dùng ý nghĩ dẫn ánh sáng tới sau tâm, trước song quan (18) tức là tới bộ vị mà ta vẫn quen gọi là "Cửa Huyền Tẫn" (19). Chỉ cần ta khéo biết dùng ý nghĩ dắt dẫn, ánh sáng kia sẽ đến được cửa này. Lúc này ta chớ nên quên hàm ý diệu huyền của hai chữ "tựa hồ" nói đến ở trên. Và, dĩ nhiên, Thiên Tâm sẽ tự động khai mở.

Còn công pháp tiếp tục ra sao sau này sẽ trình bày rõ . Ðiều cần nhắc nhở ở đây là khi luyện công, trước sau không được để Tâm bị những cảnh tượng hiển hiện do nguyên khí được phát động làm cho mê hoặc, nếu bị mê hoặc rất có thể Tẩu hỏa Nhập ma (20).

Các vị hãy tu luyện theo công pháp mà tôi truyền đạt, ngoài ra không có phương pháp nào khác hay hơn. Nói đi nói lại, chỉ có thuần nghĩ đến Thiên Tâm. "Kinh Lăng Nghiêm" (21) của nhà Phật cũng từng nói : thuần nghĩ sẽ bay bổng, ắt sinh Thiên thượng" . Thiên nói đến ở đây không phải là Trời xanh, mà là chỉ Pháp thân (22) sinh thành ở cung Càn (23) (tức ở đỉnh đầu) . Càn tức là Thiên. Tự nhiên lâu ngày sẽ thân ngoại hữu thân, Thiên ngoại hữu Thiên.

honglaumong
17-11-06, 10:19 PM
Bởi lẽ, thể xác con người có thể so sánh với một quốc gia. "Thái nhất" tập trung lại chính là vua của quốc gia ấy, còn ánh sáng chính là ý chí hoặc mệnh lệnh của đức vua đó. Vì vậy, hễ có ánh sáng rọi tới thì khí trong khẩu cơ thể đều quay hướng về, đỉnh đầu, tựa như thể đức vua định đô lập quốc tất cả các chư hầu đều về triều cống lễ tung hô, cũng giống như vua tôi trên dưới một lòng, quân dân đồng tâm hiệp lực, tất cả mọi người đều lo làm tròn bổn phận của mình.


Trở về, các vị chỉ cần chuyên tâm tập luyện hồi quang, đó chính là diệu đế tối thượng. Tập luyện hồi quang lâu ngày, ánh sáng sẽ ngưng kết lại, tự nhiên hình thành pháp thân, ngày một mở rộng, vươn dài. Ðó chính là cái mà Ðạo gia chúng ta vẫn gọi là "ngân ngạc", Phật pháp Tây phương gọi là "Pháp vương thành". Ðức vua được các hiền thần phò tá, thế là tinh khí ngày một sinh sôi, nguyên thần ngày một vượng thịnh, rồi một ngày Thân Tâm hòa hợp, biến hóa đó chẳng phải là vấn đề Thiên ngoại hữu Thiên, Thân ngoại hữu Thân đó sao ?

Còn cần nói thêm một câu nữa : Kim Hoa, đó chính là Kim Ðan. Sự biến hóa khôn lường của nó chính. là do Tâm người luyện công quyết định . Diệu quyết ở đây , tuy không có chút gì là xa lạ, nhưng vô cùng linh hoạt. Tất cả đều dựa vào trí thông minh và tính" trầm tĩnh bởi vì, .nếu không phải người thông minh nhất thì không thể thực hành được, cũng như nếu không phải người trầm tĩnh nhất thì cũng không thể theo đuổi đến cùng !



Thiên Tâm (dịch từ Phụ bản Bắc Kinh)


Lã Tổ nói rằng :

Thiên Nhiên tức là Ðạo. Ðạo không có tên, không có hình tướng, chỉ là một Tính, một Nguyên Thần mà thôi. Tính mệnh không nhìn thấy, không sờ thấy được, chỉ gửi gắm ở Thiên Quang. Thiên Quang cũng không nhìn thấy được không sờ thấy được, chỉ gửi gắm ở hai mắt mà thôi.

Từ xưa tới nay, các chư Tiên truyền đạo thường chỉ dạy truyền khẩu, dạy thế hệ nào thành công thế hệ ấy. Kể từ khi Thái Thượng hiện hóa ở Ðông Hoa, rồi truyền thừa mãi cho tới Lã tôi, rồi tới các tín đồ hai tông Nam Bắc, có thể nói Ðạo giáo Toàn Chân đạt tới điểm cực thịnh. Có điều, nói là thịnh, thịnh là ở chổ đông người, nhưng thật ra là đang suy, suy ở chỗ dứt bỏ tâm truyền. Cho tới lúc này thì phù phiếm đến tột cùng, ngao ngán đến cực điểm ! Mà "Vật đã đến bước tột cùng ắt sẽ đi ngược lại". Thế là Hứa Tổ phái Tịnh Minh đứng ra từ bi phổ độ, đề xuất nguyên tắc "Giáo ngoại biệt truyền" để thu nạp những người có căn khí khác thường. Những người nghe Ðạo thì họa hoằn mới gặp , những người học Ðạo lại càng hiếm thấy, mọi người đều thể hội nổi khổ tâm giúp người của Hứa Tổ, đều phải vững vàng trong cuộc sống hằng ngày cũng như trong cách đối nhân xử thế, rồi sau mới bàn đến chuyện tu chân ngộ tính. Tôi giờ đây rất vinh hạnh được làm thầy dạy, trước tiên hãy trình bày rõ về: "Thái ất Kim Hoa Tông Chỉ", rồi sau mới giới thiệu tỷ mỉ từng chương.

Cái gọi là "Thái ất" tức là một đại từ thượng thừa . Hết thảy những pháp quyết luyện công nói chung đều phải dùng thuật hữu vi để đạt tới cảnh giới vô vi, vì vậy không phải là công pháp một tấc đến Trời. "Tông chỉ" truyền thụ ở đây có khác, mới đầu sẽ trực tiếp đề xuất tính công, không hề thua pháp môn thứ hai, vì vậy lại càng huyền diệu.

Cái gọi là "Kim Hoa" - đó là ánh sáng. Ánh sáng đó có màu gì ? Y hệt như bông hoa bằng vàng, trong đó có bao hàm chữ "ánh sáng" vậy. Ðó chính là chân khí Thái ất tiên thiên. Cái gọi là "Thủy hương diên , chỉ nhất vị" nói đến trong "Nhập dược kính" chính là muốn chỉ chân khí ấy.

Công phu hồi quang toàn dùng nghịch pháp - tập trung ý nghĩ vào Thiên Tâm.

Thiên Tâm ở vào giữa Mặt Trời và Mặt Trăng (mắt phải và mắt trái). "Hoàng Ðình Kinh" có câu : "Thôn điền xích trạch khả trị sinh", xích trạch nói đây là chỉ phần mặt của con người, ở phần mặt có một khoảnh điền vuông vức, đó chẳng phải chỉ Thiên Tâm, thì còn là cái gì ? Trong tấc vuông này có danh lam thắng cảnh có vạn cổ kỳ quan là nơi thần tối hư tối linh cư ngụ . Nho gia gọi nó là "Hư Trung", Phật gia gọi là "Linh Ðài", Ðạo gia gọi nó nào là "Tổ Thổ", "Hoàng Ðình", nào là "Huyền Quan"; Tiên Thiên Khiếu v.v... Thì ra Thiên Tâm kia giống như một tòa nhà, còn ánh sáng là người , chủ của ngôi nhà đó.

Vì vậy hễ hồi quang thì khí khắp trong cơ thể sẽ hướng về đỉnh đầu, tựa như thánh vương định đô kiến triều, vạn quốc dâng biểu qui thuận, hoặc như người chủ anh minh, nô tỳ tự nhiên phụng mệnh, người nào việc nấy.

Các vị chỉ cần thực hành hồi quang, đó là diệu đế tối thượng. Có điều cần chú ý, loại ánh sáng này dễ động nhưng lại khó định. Hồi quang lâu ngày, loại ánh sáng này dần dần ngưng kết thành pháp thân tự nhiên, cuối cùng có thể ngưng thần ở trên Cửu Tiêu vậy. Mặc triều và "bay bổng" nói đến trong "Tâm ấn Kinh" chính là chuyện đó vậy.

Thực hành "Tông chỉ" không còn công pháp nào hơn, chỉ ở chỗ thuần nghĩ về Thiên Tâm. "Kinh Lăng Nghiêm" nói : "Thuần nghĩ sẽ bay bổng, ắt sinh Thiên thượng". Thiên nói đây không phải là Trời xanh, mà là ám chỉ Pháp thân sinh ra ở cung Càn (ở đầu) vậy. Càn được xem là Trời. Lâu ngày sẽ "thân ngoại hữu thân".

Kim Hoa chính là Kim Ðan. Sự biến hóa thần minh của nó khác nhau tùy tâm của mỗi người. Diệu quyết ở đây tuy không có gì khác lạ, nhưng vô cùng linh hoạt. Tất cả dựa vào trí thông minh cũng như dựa vào tính trầm tĩnh. Nếu không phải là người trầm tĩnh nhất thì không thể kiên trì .



Chú Thích


1 Tổ Sư :

Trong bản Bắc Kinh viết Lã Tổ chỉ Lã Ðồng Tân .


2. Huyền khiếu :

Huyền chỉ Trời, tức Tự Nhiên. Huyền khiếu, đôi khi còn gọi là Diệu khiếu, tức là khiếu tiên thiên, phân biệt với thất khiếu hậu thiên như: tai, mắt, miệng, mũi v.v .. Những người tu luyện công phu thâm hậu, đạt tới giai đoạn cực tĩnh, Huyền khiếu tự nhiên xuất hiện. .Lúc này Khí tiên thiên vào ra qua huyền khiếu.

Huyền khiếu là then chốt tất cả các khiếu trong cơ thể, nó nằm ở chính giữa hai lông mày . Huyền khiếu khai mở cho hay giai đoạn tu luyện Tiên thuật Nội Ðan đã thành vậy.


3. Khí tiên thiên :

Còn gọi là Thái Nhất. Trong Ðạo học, Thái Nhất là một tên khác của Ðạo. Vì thế mới nói : Khí tiên thiên là Bản thể, là gốc .


4. Kim đan :

Hay còn gọi là Kim Hoa, Ðan quang, Tính quang. Sau khi tụ tập tĩnh công tới cảnh giới nhất định thì Kim đan tự nhiên xuất hiện, người tu luyện đạt Ðạo, tâm thanh tịnh.


5. Ðông Hoa đế quân :

Tức Vương Huyền Phủ, một Ðạo sĩ đời Ðông Tấn, thường được người đời mệnh danh là "Trung Nhạc Chân nhân".


6. Hai Tông Nam Bắc :

Hai Tông Nam Bắc hình thành vào đời Tống.

Giáo chủ Nam tông là Trương Bá Ðoạn, thường gọi là Tử Dương Chân nhân , còn giáo chủ Bắc Tông là Vương Trùng Dương, thường gọi là Trùng Dương Chân nhân.

Sự khác biệt giữa hai Tông này là : Nam Tông lấy cách thức tu luyện "trước tu mệnh, sau tu tính", còn Bắc Tông thì ngược lại : "trước tu tính, sau tu mệnh". Cả hai Tông đều tôn hai vị Tiên. Chung Ly Quyền và Lã Ðồng Tân làm tổ sư .


7. Nội tỉnh :

Phương pháp tu dưỡng của Nho gia, soi xét xem hành vi của mình có chỗ nào không hợp Ðạo .

Tăng Sâm nói : "Ngô nhật tam tỉnh ngộ thân" (Ta một ngày, soi lại mình ba lần) .


8. Nội thị :

Còn gọi là nội quan, phương pháp tu dưỡng của Ðạo gia. Tập theo phương pháp này có thể tập trung nhìn dõi vào bên trong, ý nghĩ tới đâu thì khí tới đó, khí thông suốt khắp cơ thể, không có gì ngăn trở.


9. Kinh bốn mươi hai chương :

Bộ kinh Phật giáo được phiên dịch sớm nhất ở Trung Hoa. Vào khoảng năm Vĩnh Bình Minh Ðế đời Ðông Hán tức khoảng năm 58 - 75, bộ Kinh này do Kasyapamatanga, người Ấn Ðộ dịch lần đầu tiên sang tiếng Hán, rồi dùng ngựa trắng chở đến chùa Bạch Mã ở Lạc Dương.


11 Sắc :

Thuật ngữ Phật học, chỉ thế giới những hiện tượng nhìn thấy, hiện tượng vật chất.


12. Không :

Thuật ngữ phật học, chỉ pháp giới hư vô, cảnh giới chân không diệu hữu. Phật giáo cho thế giới hiện tượng do duyên sinh ra, sinh hủy trong thoáng chớp, giả mà không thật, vì vậy cho là không.


13. Tâm kinh :

Viết tắt của "Bát Nhã Ba La Mật Ða Tâm Kinh", đôi khi còn gọi là "Bát Nhã tâm Kinh", một bộ Kinh chủ yếu của Phật giáo, trình bày rõ quan niệm về "Không", quan niệm về "Không phân biệt", phương pháp tư duy phủ định hình thái , tư tưởng "Trung đạo" v.v... Kinh này do Huyền Trang vâng chiếu chỉ vua Ðường dịch từ tiếng Phạn ra tiếng Hán.


14. Ðan thư :

Hay còn gọi là "Ðan kinh", chỉ các Kinh sánh ghi chép về thuật luyện đan như Nội đan, Ngoại đan, Âm đan, Cửu đỉnh thần đan v.v...


15. Tồn thành :

Tập trung, một lòng một dạ, tin tưởng, không do dự, không phân tán.


16. Tam quang :

Chỉ Mặt Trời, Mặt Trăng và các vì sao.


17. Tam quang hội tụ, vào ra :

Trong các Ðan thư gọi là "Nhật Nguyệt hợp bích".


18. Song quan :

Chỉ đốt sóng thứ hai mươi bốn, kẹp giữa hai thận.


19. Cửa Huyền Tẫn :

Thuật ngữ luyện nội công, chỉ một bí khiếu lớn nằm giữa hai thận.


20. Tẩu hỏa Nhập ma :

Thuật ngữ luyện nội công, gồm hai quá trình tách biệt là Tẩu hỏa và Nhập ma.

Trong luyện nội công ta cũng phải dùng tới lửa. Lửa ở đây chính là ý, là Thần. Nếu ý và Thần huy động quá mức, nội khí sẽ tán loạn, chệch khỏi quỹ đạo kinh mạch, nhẹ thì khó điều khiển, mà nặng thì không thể điều khiển nổi, mất tự chủ, hành động hỗn loạn, không kìm hãm được, tổn hại đến sức khỏe cả tâm thần lẫn thể chất , đó là Tẩu hỏa .

Còn như trong lúc luyện nội công, ở giai đoạn "cực động" dẫn đưa tới "tĩnh", tùy tâm trạng của mỗi người, có thể xuất hiện những ảo giác dị thường, ví như một cảnh đẹp mê hồn, một đàn mãnh thú hung dữ, một cảnh chém giết rùng rợn, một thế giới thần thánh, ma quỷ quái đản... Ðó chính là phản ứng do nội khí kích động những tế bào thuộc hệ thống trí nhớ trong não bộ và xảy ra hiện tượng trong khoa học gọi là "sự tái hiện tiềm thức". Lúc này, nếu người tập lại tin những ảo giác đó là thật, tâm trí sẽ rối loạn, hãi hùng, mất tự chủ có thể dẫn tới điên loạn, mất trí. Ðó chính là hiện tượng "Nhập ma".

21. Kinh Lăng Nghiêm :

Bộ kinh Phật giáo, gồm mười cuốn, do Pramiti, một cao tăng người Trung Ấn, dịch ra tiếng Hán tại Quảng Châu, vào đời Ðường, trình bày về bản chất của Tâm và Tính.


22. Pháp thân :

Tiếng Phạn Dharnlakaya , chỉ thể tích thực tướng của chư pháp mà đức Phật đã chứng ngộ, ở đây chỉ "Phép quán Phật thân" của Phật giáo Ðại thừa.


23. Cung Càn :

Chỉ Thượng Ðan Ðiền, ở vào huyệt Nê hoàn. Trong "Kinh dịch. Thuyết quái truyện" nói : "Càn là đầu", lại nói "Càn là Trời vậy". Ở đây "Càn" là tượng trưng cho Trời .